Có nên trang bị súng cho tất cả công an xã ?

Thứ hai, 25/12/2017, 16:45 (GMT+7) 0 Phản hồi

(Pháp luật) - Mấy ngày qua, một tâm điểm đã thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là các chuyên gia và các Đại biểu Quốc hội, đó là vấn đề các công an xã, phường được cấp vũ khí theo Dự thảo Thông tư quy định về trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ do Bộ Công an vừa công bố để lấy ý kiến người dân. Trên thực tế, đã có nhiều những ý kiến tranh luận trái chiều về vấn đề này, vì thế cần thiết phải có sự trao đổi nhằm làm rõ hơn và cũng là để góp ý cho một quy định quan trọng của Dự thảo này. 

Theo đó, đội ngũ công an xã, phường là lực lượng vũ trang thuộc hệ thống công an nhân dân nói chung. Đậy là lực lượng đảm bảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội ở cơ sở với con số thống kê trên cả nước vào khoảng hơn 100 nghìn chiến sỹ. Tuy nhiên, điểm yếu nhất của đội ngũ này là chưa được đào tạo bài bản, chính quy. Chính vì thế mà có quan điểm cho rằng, nếu giao súng cho tất cả các chiến sỹ trong đội ngũ này sẽ khó tránh khỏi những rủi ro, sơ suất và sẽ rất dễ để xảy ra tình trạng lạm dụng vũ khí quân dụng một cách tùy tiện, dễ mất kiểm soát nên có thể gây ra những hậu quả đáng tiếc.

Lực lượng công an xã

Lực lượng công an xã

Tuy thế, cũng có quan điểm thì ủng hộ cho rằng, thực tế dưới cơ sở, Công an xã phải va chạm với rất nhiều đối tượng như trộm cắp, ma túy… . Do đó, nếu lực lượng này được trang bị tốt để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm thì kẻ xấu sẽ khó thực hiện được mục đích vi phạm. Khi đó, nếu những vụ việc trên được giải quyết tốt từ dưới cơ sở thì tội phạm sẽ giảm đi, kéo theo tình trạng tạm giam, tạm giữ sẽ giảm đi rất nhiều.

Nếu nhìn vấn đề một cách toàn diện thì việc giao súng cho tất cả các công an xã với con số hơn 100 nghìn chiến sỹ trong cả nước như hiện nay thì đó là sẽ một con số đầu tư không hề nhỏ. Nhưng, vấn đề có lẽ đáng bàn và cấp thiết hơn ở đây là cần xét đến diễn biến tình hình tội phạm cũng như tình hình an ninh trật tự trên phạm vi cả nước. Theo đó, Việt Nam chúng ta đang được đánh giá là quốc gia yên bình. Trong một sự bình chọn mới đây, Việt Nam đã được xếp là đất nước an toàn nhất thế giới với vị trí số một không có khủng bố. Trên thực tế, ở Việt Nam vẫn có xã hội đen và những mầm mống của tội phạm có tổ chức nhưng đó vẫn chỉ là những tổ chức đơn lẻ, chưa thực sự hình thành những điểm nóng và gây bất an cho đời sống nhân dân. Nên cũng chính vì thế mà có quan điểm cho rằng, nước ta có loạn đâu mà cần phải trang bị súng cho tất cả các công an xã.

Do đó, nếu quyết định trang bị súng đạn cho tất cả lực lượng công an xã, phường thay vì để tăng cường và làm tăng thêm sức mạnh cho công tác an ninh cũng như đội ngũ công an thì khi đó về mặt tâm lý, nhân dân sẽ đột nhiên cảm thấy bất an và hoang mang, lo lắng bởi nhân dân sẽ nghĩ rằng, có lẽ tình hình an ninh, chính trị và trật tự xã hội sẽ đang gặp phải vấn đề gì rất nghiêm trọng nên tất các chiến sỹ công an xã, phường đã phải được trang bị súng đạn như vậy.

Theo truyền thống, lực lượng quân đội và lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam hoạt động chủ yếu bằng trí tuệ, chính sức mạnh trí tuệ ấy đã làm nên những chiến thắng oai hùng cho dân tộc Việt Nam. Việc sử dụng súng đạn cũng như các công cụ hỗ trợ khi làm nhiệm vụ của đội ngũ công an chỉ trong các trường hợp khẩn thiết, nhằm triệt phá những điểm nóng về tội phạm nguy hiểm hoặc để phòng ngữa.
Theo quy định tại điều 16, Luật Công an nhân dân năm 2014 thì Công an xã là lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở. Như thế, với quy định này thì có thể nói, nội dung hoạt động cũng như chức năng và nhiệm vụ chính trị chủ yếu Công an xã là gây dựng và tạo dựng phong trào toàn dân nhằm bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội chứ không tham gia trực tiếp vào các điểm nóng chống tội phạm nguy hiểm. Theo đó, theo quy định tại điều 3 của Pháp lệnh Công an xã năm 2008 thì công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã. Khi đó, công an xã có chức năng tham mưu cho cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp về công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, các biện pháp phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật.

Để thực hiện những chức năng này, Công an xã có những nhiệm vụ và quyền hạn sau được quy định tại điều 9 của Pháp lệnh công an xã:
1. Nắm tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã, đề xuất với cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch, biện pháp đó.
2. Làm nòng cốt xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo thẩm quyền.
3. Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã và tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý, giáo dục các đối tượng phải chấp hành hình phạt quản chế, cải tạo không giam giữ, người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo cư trú trên địa bàn xã; quản lý người được đặc xá, người sau cai nghiện ma túy và người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện phải tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật.
4. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức và lực lượng khác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật; bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tính mạng, tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức trên địa bàn xã.
5. Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý cư trú, chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại khác; quản lý vật liệu nổ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường; quản lý về an ninh, trật tự đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trên địa bàn xã theo phân cấp và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.
6. Tiếp nhận, phân loại, xử lý theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã; kiểm tra người, đồ vật, giấy tờ tùy thân, thu giữ vũ khí, hung khí của người có hành vi vi phạm pháp luật quả tang; tổ chức cấp cứu nạn nhân, bảo vệ hiện trường và báo cáo ngay cho cơ quan có thẩm quyền; lập hồ sơ ban đầu, lấy lời khai người bị hại, người biết vụ việc, thu giữ, bảo quản vật chứng theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng, thông tin thu thập được và tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, xử lý vụ việc.
7. Tổ chức bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn xã; dẫn giải người bị bắt lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp.
8. Xử phạt vi phạm hành chính; lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người vi phạm pháp luật trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Công an.
9. Được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã phối hợp hoạt động, cung cấp thông tin và thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
10. Trong trường hợp cấp thiết, để cấp cứu người bị nạn, cứu hộ, cứu nạn, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm, được huy động người, phương tiện của tổ chức, cá nhân và phải trả lại ngay phương tiện được huy động khi tình huống chấm dứt và báo cáo ngay với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải quyết theo chính sách của Nhà nước.
11. Tham gia thực hiện công tác tuyển sinh, tuyển dụng vào lực lượng vũ trang nhân dân; luyện tập, diễn tập thực hiện các phương án quốc phòng, an ninh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai và các sự cố nghiêm trọng khác.
12. Xây dựng lực lượng Công an xã trong sạch, vững mạnh về chính trị, tổ chức và nghiệp vụ.
13. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Như thế, khi nhìn vào những nhiệm vụ và quyền hạn này của Công an xã thì có thể thấy, việc trang bị súng cho tất cả các công an xã là không cần thiết bởi công an xã không tham gia trực tiếp vào việc triệt phá tội phạm nguy hiểm. Tuy thế, khi thực hiện nhiệm vụ tổ chức bắt người phạm tội quả tang hay người đã có quyết định bị truy nã, đang bị truy tìm mà đang lẩn trốn trên địa bàn xã thì các chiến sỹ công an xã cũng sẽ có thể phải tiếp cận với đối tượng nguy hiểm. Vì thế, sẽ chỉ nên giao súng cho những chiến sỹ trực tiếp làm nhiệm vụ đó theo đúng chức năng đã được giao. Đây là vấn đề thuộc về chuyên môn và nghiệp vụ của ngành công an, vì thế cần thiết phải có sự cụ thể hóa và chi tiết hóa trong quy định của pháp luật về vấn đề này.

Và xét trên một phạm vi rộng hơn, đối với những địa bàn và cơ sở thường hình thành những điểm nóng về tội phạm nguy hiểm thì khi đó cũng cần thiết trang bị súng cho các công an xã khi được giao làm nhiệm vụ. Như thế, không phải tất cả các công an xã, phường đều cần thiết phải được trang bị súng đạn, khi mà đây chỉ là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, nhằm tránh những rủi ro và những hậu quả đáng tiếc có thể xẩy ra đối với người dân.

CTV Trần Trí Dũng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@lethanhhai.net
  • Share on Link Hay!
  • Facebook
  • Twitter

Ban Biên Tập

Đọc tin mới qua Email:

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ
banbientap@lethanhhai.net

Facebook Lê Thanh Hải

Mạng Xã Hội

Lê Thanh Hải
Lê Thanh Hải