Vốn đầu tư FDI tăng “ồ ạt”: Cần sự cẩn trọng

Thứ tư, 15/11/2017, 11:54 (GMT+7) 0 Phản hồi

(Bạn đọc) - Trong nhiều năm gần đây, Việt Nam nổi lên như một “điểm sáng” của giới đầu tư toàn cầu. Một mặt, đây là quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP đầy ngoạn mục ở khu vực cũng như trên thế giới, mặt khác lại có đầy những “ưu đãi”. Tuy vậy, trong chiến lược thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần biết rằng, bên cạnh những mặt tích cực cho nền kinh tế thì dòng vốn FDI vẫn có “đầy rẫy” những hiểm nguy tiềm tàng, đòi hỏi sự cẩn trọng trong việc thu hút và sử dụng. Và chắc chắn, Việt Nam cũng không là một ngoại lệ.

Vốn FDI "đổ vào" Việt Nam tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2017

Vốn FDI “đổ vào” Việt Nam tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2017

Dòng chảy “ồ ạt” của vốn FDI

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2017, tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã lên tới 25,48 tỷ USD; trong đó vốn giải ngân trên thực tế cũng đã đạt mức 12,5 tỷ USD. So với năm 2016, đây là mức tăng rất cao, vượt trên 34,3% mức tăng cùng kỳ. Với tốc độ rót vốn “ồ ạt” của giới đầu tư nước ngoài hiện nay, thì chỉ riêng mức đầu tư trong 9 tháng năm 2017 đã vượt xa so với toàn bộ vốn FDI của năm 2016 – vốn chỉ đạt 24,3 tỷ USD.

Hiện nay, trên khắp 63 tỉnh thành của Việt Nam đều đã ghi nhận sự có mặt chính thức của các nhà đầu tư nước ngoài đến từ 108 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cùng với những triển vọng kinh tế hiện nay, đặc biệt là dự báo của Chính phủ Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% cuối năm 2017, dòng vốn FDI này sẽ không những không chậm lại mà còn tiếp tục tăng mạnh trong những năm sắp tới. Tính tới lúc này, các quốc gia dẫn đầu lần lượt là Hàn Quốc với tổng mức đầu tư đạt 55,8 tỷ USD; Nhật Bản với 46,1 tỷ USD; theo sau đó là Singapore, Trung Quốc… trong tổng số 310,190 tỷ USD vốn FDI, một con số “khổng lồ”.

Qua những con số đáng ngạc nhiên trên, Việt Nam vẫn tỏ ra là một môi trường đầy tiềm năng và thuận lợi cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với các cải thiện mạnh mẽ về thủ tục hành chính, bãi bỏ nhiều điều kiện đầu tư có tính cứng rắn và nhiều điều kiện thuận lợi cũng như sự ưu ái dành cho các nhà đầu tư, Việt Nam sẽ là một trong những nước được hưởng lợi nhiều nhất từ nguồn FDI đang dịch chuyển nhanh chóng.

Điều đáng nói, số vốn FDI dù ngày càng tăng và thậm chí tăng rất cao so với nhiều nước, nhất là sau khi hội nghị APEC 2017 vừa diễn ra thành công tại Đà Nẵng với sự tham gia của các nền kinh tế toàn cầu như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc… và các tập đoàn đa quốc gia tìm kiếm cơ hội đầu tư, thế nhưng chúng ta vẫn chưa biết nắm bắt và tận dụng hiệu quả.

Bên cạnh sự phụ thuộc sâu hơn vào nước ngoài trong động lực tăng trưởng GDP, thì các thành phần kinh tế trong nước – vốn đóng vai trò chủ lực trong phát triển đất nước, vẫn chưa được hưởng lợi ích từ khu vực này. Các mục đích chính của việc mở cửa đón nhận đầu tư nước ngoài để chuyển giao khoa học – công nghệ, tạo thúc đẩy cho ngành công nghiệp chế biến – chế tạo và các ngành phụ trợ vẫn chưa đạt được. Rõ ràng, sự phát triển của Việt Nam đang được “chắp vá” bởi nhiều sự bất ổn và thiếu tính bền vững mà một trong số đó chính là sự thiếu hiểu biết về vốn FDI.

Phải chăng, chúng ta đang tự đặt mình trước những rủi ro quá lớn khi “cưỡi” trên “con sóng dữ” mang tên FDI mà không hề nhận thấy, bên cạnh những lợi ích “hào nhoáng” mà đất nước nhận được, thì dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng chứa không ít nguy hiểm tiềm tàng.

FDI và “vùng trũng” Việt Nam

Nói một cách đơn giản, trong nền kinh tế thị trường tự do, “dòng vốn” FDI sẽ “len lỏi” khắp mọi ngóc ngách trong nền kinh tế để có thể tìm kiếm các “khoản hời” lớn của không chỉ riêng thị trường trong nước, mà còn chảy tận sang các quốc gia khác – bất cứ quốc gia nào thiếu vốn để đầu tư, phát triển kinh tế.

Các nhà đầu tư lúc này là các cá nhân, tập đoàn kinh tế có “nhiều tiền, nhiều của”, khi nhận thấy “khoản lợi nhuận khổng lồ” chưa được khai thác tại các quốc gia khác, hay được gọi với cái tên mỹ miều là quốc gia có tiềm năng phát triển, sẽ tiến hành thông qua các kênh đầu tư để rót vốn vào. Có hai hình thức là đầu tư trực tiếp như xây dựng nhà máy; thành lập hay mua lại công ty… hoặc gián tiếp như mua cổ phần công ty trong nước, hoặc liên doanh với chính phủ để mở ra các nhà máy, công ty lớn.

Điều đáng nói, các nước được đầu tư luôn có đặc điểm của nền kinh tế đang còn có nhiều yếu kém, sự cạnh tranh vẫn chưa thật gay gắt và nhiều lĩnh vực kinh tế tiềm năng vẫn chưa được khai thác. Khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ “đổ ào ạt” dòng vốn từ hàng trăm triệu cho tới hàng tỷ USD để sản xuất và kinh doanh. Cùng với lợi thế lớn về tiềm lực tài chính cũng như công nghệ, các doanh nghiệp nước ngoài này sẽ hình thành nên vị thế vượt trội so với đối thủ, bóp nghẹt nguồn lực cạnh tranh trong nước đó.

Hãy hình dung về một dòng nước chảy. Dòng nước sẽ luôn đổ từ những nơi cao xuống nơi thấp hơn và đặc biệt sẽ lưu lại tại những vùng trũng thấp nhất tại nơi nó đi qua. “Dòng vốn FDI” cũng có những đặc điểm tương tự, nó sẽ chảy từ những nền kinh tế lớn (vốn có sự cạnh tranh khắc nghiệt và khả năng “kiếm hời” ít hơn) đổ xuống và lưu lại ở những “vùng trũng” là các quốc gia còn chưa phát triển mạnh về kinh tế (mà tại đây sẽ có thể có khả năng tìm kiếm lợi nhuận cũng như mức độ cạnh tranh thấp hơn nhiều). Tại đây dòng vốn FDI sẽ “xoáy sâu” vào bên trong nền kinh tế để tìm kiếm lợi nhuận đầu tư của mình và sau đó sẽ tiếp tục đổ đi nơi khác.

Thật khó khăn, nhưng Việt Nam chúng ta đang có những đặc điểm tương tự như một “vùng trũng thấp” trên đường dịch chuyển của vốn FDI. Và nếu không có những cách khai thác và nắm bắt hiệu quả, chúng ta sẽ bị dòng chảy này “xoáy” ngày một sâu hơn vào những yếu kém, từ đó đất nước không những không thể đi lên mà còn ngày một đi vào sự lệ thuộc kinh tế vào giới doanh nghiệp nước ngoài.

Rủi ro tiềm ẩn trong dòng vốn FDI

Như đã phân tích, dòng vốn FDI vẫn có những rủi ro tiềm tàng nhất định, vốn luôn “núp” phía sau những hình ảnh hào nhoáng tích cực mà các tập đoàn kinh tế, các quốc gia đầu tư sử dụng khi rót vốn vào các nước tiếp nhận.

Thứ nhất, vốn FDI chỉ lưu lại những thị trường “tiềm năng” và chỉ trong thời gian nhất định. Vì vậy về cơ bản, vốn FDI chỉ nên là nguồn lực “bổ trợ” trong phát triển vì thiếu tính ổn định cũng như lợi ích không thực sự gắn liền với quốc gia đó.

Có thể lý giải, hiện tượng tăng vọt vốn FDI của nước ngoài vào Việt Nam gần đây có sự bắt nguồn từ thay đổi ở thị trường Trung Quốc. Chính sự phát triển quá mạnh của Trung Quốc trong những năm gần đây đã dẫn tới sự thay đổi về bộ mặt kinh tế đất nước, lương chi trả cho người lao động tại đây trở nên cao hơn cũng như chịu sự cạnh tranh mạnh khốc liệt trên thị trường và sự siết chặt quản lý ngày càng lớn từ nhà nước.

Nguồn lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài nhanh chóng suy giảm và Việt Nam lúc này nổi lên như một điểm sáng về đầu tư. Với các đặc điểm chi phí nhân công thấp, tăng trưởng GDP mạnh mẽ và có sự “ưu đãi” rất lớn trong thu hút đầu tư thông qua các chính sách thuế, phí cũng như mở rộng điều kiện kinh doanh. Từ đó, Việt Nam trở thành điểm dừng chân kế tiếp của các nhà đầu tư và trong tương lai, không có gì đảm bảo sẽ không xuất hiện một thị trường mới thuận lợi hơn chúng ta và một viễn cảnh rút vốn “ồ ạt” sẽ không diễn ra như đối với Trung Quốc hiện nay.

Thứ hai, chưa thực hiện chuyển giao công nghệ cho nước được đầu tư nhưng đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt cho các doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn FDI của nhà nước là nhằm mục đích cuối cùng để nhận được sự chuyển giao công nghệ sản xuất liên quan mà hiện nay trong nước chưa thể có được.
Cụ thể, sự ưu đãi dành cho Toyota, Honda… là nhằm tiếp nhận dây chuyền sản xuất, lắp ráp cơ khí động cơ. Với Samsung chính là sự chuyển giao kỹ thuật trong việc sản xuất điện thoại và linh kiện điện tử công nghệ cao. Tuy nhiên trên thực tế, các hãng này vẫn chưa có sự chuyển giao đúng mức so với thỏa thuận. Việc đào tạo nhân công cũng chưa được chú trọng, mà chủ yếu khai thác tính “đông, rẻ và nhạy bén” của người lao động Việt Nam. Thậm chí sự việc Formosa vừa rồi, nếu không có sự kiện thải ra biển gây ô nhiễm thì chúng ta cũng không thể biết rằng công nghệ xử lý thải lạc hậu của tập đoàn Đài Loan này sẽ giúp ích gì cho Việt Nam khi chuyển giao về sau.

Bên cạnh đó, việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho các giới doanh nghiệp FDI vẫn chưa hiệu quả. Bằng chứng là rất ít sản phẩm, phụ kiện chính của Việt Nam được nhà máy các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng mà chủ yếu là nhập khẩu từ công ty mẹ ở nước ngoài. Từ đây, các doanh nghiệp nội địa lại phải chống chọi trong một môi trường cạnh tranh thiếu công bằng so với các tập đoàn hùng mạnh về vốn và kỹ thuật lại được ưu đãi quá nhiều.

Thứ ba, dòng vốn FDI là “công cụ lợi dụng” các quốc gia tiếp nhận đầu tư để thông qua đó khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản quý bằng những công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường. Có một thực tế, nhiều nước trên thế giới như Việt Nam dù trình độ phát triển chưa cao nhưng lại sở hữu cho mình một trong những mỏ quặng, dầu khí cực kỳ phong phú với trữ lượng lớn. Tuy nhiên vì sự lạc hậu về trình độ công nghệ khai thác cũng như hạn chế về tài chính, nên các “mỏ vàng trời cho” vẫn chưa được khai thác hiệu quả và hay bị đội chi phí lên cao.

Trong khi đó, các nhà đầu tư lại nhận thấy được nguồn lợi cực kỳ to lớn, đồng thời chỉ cần áp dụng một dây chuyền khai thác “tương đối hiện đại” so với trình độ của nước sở tại thay vì những dây chuyền hiện đại nhất để giảm chi phí sản xuất, là có thể được chấp nhận. Dẫu sao, các hệ lụy môi trường liên quan sẽ do các nước tiến hành khai thác gánh chịu, trong khi đó các tập đoàn này chỉ việc “cung ứng” vốn FDI để có thể hưởng một khoản lời không hề nhỏ. Và Formosa như là một bài học điển hình cho Việt Nam, để có thể bảo vệ chính mình, cần phải thắt chặt hơn điều kiện kèm theo trong đầu tư sản xuất khi tiếp nhận vốn FDI, đặc biệt đến từ các nước có trình độ công nghiệp thuộc thế hệ thấp.

Đấy là những mặt trái rủi ro tiềm tàng của dòng vốn FDI. Chúng ta không phủ nhận những đóng góp hết sức to lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp cũng như dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, đã tạo ra những nguồn lực mới đưa đất nước đi lên. Thế nhưng, việc hiểu biết và nắm bắt hiệu quả FDI cũng cần phải có sự nhìn nhận khách quan. Và nếu không có sự quan tâm đúng mực, Việt Nam sẽ bị “dòng chảy” FDI “xoáy sâu” và kéo xuống vùng trũng mới thay vì đưa đất nước đi lên với mục đích sử dụng ban đầu.

CTV Hoa Nắng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@lethanhhai.net
  • Share on Link Hay!
  • Facebook
  • Twitter

Ban Biên Tập

Đọc tin mới qua Email:

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ
banbientap@lethanhhai.net

Facebook Lê Thanh Hải

Lê Thanh Hải
Lê Thanh Hải