Tiếng Anh được công nhận là ngôn ngữ thứ hai sẽ ra sao?!

Thứ hai, 17/06/2019, 16:30 (GMT+7) 0 Phản hồi

(Chính trị) - Mấy ngày nay dư luận xôn xao, chỉ trích Quốc hội không đồng ý công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của Việt Nam mà thấy lạ. Liệu mấy ai hiểu được ngôn ngữ thứ hai sẽ mang đến những điều gì. 

Học tiếng Anh hay công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai? Khác biệt hoàn toàn

Tiếng Anh quan trọng, tiếng Anh rất cần thiết, tiếng Anh là chìa khoá mở cánh cửa hội nhập,… Tất cả những điều ấy đều đã được tất cả mọi người công nhận. Nhưng, chuyện gì sẽ xảy ra khi tiếng Anh được công nhận là ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam?

Trước hết, tiếng Anh sẽ có vị trí ngang bằng với tiếng Việt (chữ quốc ngữ) tại thời điểm hiện tại. Mọi văn bản, tài liệu,… bất cứ thứ gì sử dụng đến chữ viết đều sẽ phải được ký hiệu bằng hai loại ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Việt song song. Đây là một sự tốn kém, lãng phí. Tất cả những tài liệu, văn bản trước đây sẽ cần dịch thuật sang ngôn ngữ thứ hai. Các văn bản, tài liệu mới sẽ có chú thích tiếng Anh bên cạnh hoặc dưới tiếng Việt. Sự thay đổi này không khác nhiều so với việc đề xuất cải cách tiếng Việt cách đây không lâu. Vậy, những ai sẽ đồng ý và chấp nhận với sự tốn kém, lãng phí như thế?

Thứ hai, nhìn ngay vào thực trạng tiếng Việt hiện nay ở Việt Nam. Tại các vùng miền núi, dân tộc thiểu số, tiếng Việt cũng chưa được phổ cập hoàn toàn. Việc tiếp cận với ngôn ngữ tiếng Việt đã khó thì học thêm tiếng Anh bằng cách nào đây? Làm gì nếu chúng ta lại tiếp tục tạo ra khoảng cách giữa các vùng đô thị, đồng bằng với vùng miền núi?

Thứ ba, trình độ tiếng Anh của đại đa số người Việt Nam hiện nay rất tệ. Nhìn vào kết quả giáo dục hằng năm hay thực trạng các công ty nước ngoài tuyển lao động tại Việt Nam sẽ thấy rõ hơn được thực trạng này. Học sinh, sinh viên đa phần có nỗi sợ hãi lớn đối với môn tiếng Anh. Đa phần việc học tiếng Anh ngày nay vẫn chỉ để đáp ứng tiêu chuẩn ra trường, qua môn, qua kỳ thi. Ngay đến cả đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh hiện nay cũng khó đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả là người nước ngoài đổ xô sang Việt Nam để dạy thêm tiếng Anh kiếm thu nhập. Các trung tâm ngoại ngữ liên tục quảng cáo “học tiếng Anh với giáo viên bản ngữ”… Đó là cũng chính lý do vì sao ngành giáo dục liên tục xây dựng những đề án nâng cao trình độ tiếng Anh cho giáo viên, học sinh. Chỉ tiếc là hiệu quả của những đề án đổi mới này chưa được hiện thực hoá.

Chưa hết, đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động hiện nay cũng thể hiện trình độ tiếng Anh kém. Tại một số cơ quan hành chính, việc đạt tiêu chuẩn bằng, cấp tiếng Anh chỉ là để “đủ tiêu chí bổ nhiệm”. Tại các doanh nghiệp tư nhân, công nhân biết tiếng Anh hay có bằng cấp cuối cùng cũng không thể giao tiếp và thực hành trong công việc. Với một thực trạng như thế, việc công nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam có phải sẽ trở thành “cú sốc”. Nghĩ thử, coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai mà chưa kịp thay đổi thực trạng hiện hữu thì dễ để lại nhiều hệ quả xấu trong xã hội.

Nhìn ra thế giới, một số quốc gia “đa ngôn ngữ” nổi bật có thể kể đến như Nam Phi (11 thứ tiếng); Singapore (4 thứ tiếng); Malaysia (3 thứ tiếng);… Tuy nhiên, các quốc gia này tồn tại nhiều ngôn ngữ là do tập quán, do điều kiện xã hội tạo thành mà không phải do chính sách phát triển hay thiết chế hành chính Nhà nước nào quy định một cách “ép buộc”. Muốn Việt Nam sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai để được như một số quốc gia trong khu vực như Singapore, Philipin, Malaysia,… nếu chỉ bằng các quyết định hành chính thì sẽ là học tập một cách máy móc. Đương nhiên, sẽ chẳng cách học máy móc nào đạt được hiệu quả trên thực tế cả.

Quay lại với thực trạng Việt Nam hiện nay, dù tiếng Anh có được coi là ngôn ngữ thứ hai hay không thì tầm quan trọng của nó đối với đời sống xã hội vẫn không hề thay đổi. Tiếng Anh vẫn cần thiết trong giao tiếp quốc tế, vẫn là một tiêu chí đánh giá trình độ của cán bộ, công chức, người lao động, vẫn là một ngôn ngữ quan trọng để xin việc vào các công ty nước ngoài, vẫn là một lợi thế cho những cá nhân, tổ chức làm trong ngành dịch vụ thường xuyên tiếp xúc với người nước ngoài,… Với tầm quan trọng không hề thay đổi như thế, tự ý thức của xã hội, cộng đồng phải ngày càng nâng cao với việc học và sử dụng tiếng anh trong đời sống chứ không phải chờ đến các quy định mang tính chất hành chính Nhà nước.

“Chín nhanh, chín ép thì dễ rụng, nhanh hỏng” và việc đưa tiếng Anh vào đời sống xã hội cũng như vậy. Gấp gáp bằng các thủ tục bắt buộc chưa chắc đã hiệu quả bằng những tác động mang tính thực tế của cuộc sống. Sẽ tốt hơn nếu chính những người chê trách Quốc hội không thông qua tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, sẽ có những hành động mang tiếng Anh đến đông đảo cộng đồng.

Mà đâu chỉ tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Nhật,… cũng dần trở nên phổ biến trong đời sống xã hội quốc tế. Quan trọng là chúng ta thích ứng với điều kiện phát triển xã hội tại Việt Nam như thế nào. Đừng nói việc không coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai mà một thất bại. Thất bại hay thành công là do mỗi cá nhân trong xã hội đã làm gì trong công cuộc phát triển quốc gia ngày hôm nay, cụ thể là về vấn đề ngôn ngữ…

(Theo Bút Danh)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
  • Share on Link Hay!
  • Facebook
  • Twitter

Ban Biên Tập

Đọc tin mới qua Email:

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ
[email protected]

Facebook Lê Thanh Hải

Mạng Xã Hội

Lê Thanh Hải
Lê Thanh Hải